Ông lang, bà mế và tri thức bản địa: Linh hồn của y học vùng cao Trong dòng chảy văn hóa của các dân tộc thiểu số Việt Nam, ông lang, bà mế chính là những “pho từ điển sống”, người nắm giữ và vận hành hệ thống tri thức bản địa vô giá về y học cổ truyền. Họ không có học hàm, học vị hiện đại, nhưng bằng kinh nghiệm truyền đời theo kiểu "cha truyền con nối", họ hiểu tường tận từng ngọn cỏ, gốc cây trong rừng sâu để biến chúng thành những bài thuốc cứu người kỳ diệu.
Cây Celastrus hindsii Benth. đã được sử dụng qua nhiều thế hệ ở miền Bắc Việt Nam để điều trị các bệnh liên quan đến loét, u và viêm mà chưa có bằng chứng về tính an toàn. - Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tính an toàn của chiết xuất nước từ lá cây C. hindsii thông qua thử nghiệm độc tính cấp tính và bán mãn tính bằng đường uống.
Tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị vảy nến thay đổi theo từng loại thuốc, từ kích ứng da nhẹ (khi bôi) đến suy gan-thận hoặc dễ mắc bệnh nhiễm trùng (khi dùng thuốc toàn thân). Các nhóm chính bao gồm corticoid gây teo da, thuốc ức chế miễn dịch suy gan thận, và thuốc sinh học gây phản ứng tại chỗ, dễ mắc bệnh nhiễm trùng. Việc tuân thủ điều trị và theo dõi sát là cần thiết để kiểm soát các biến chứng.
Bản chất của việc tắm lá thuốc trong điều trị vảy nến là phương pháp hỗ trợ điều trị tại chỗ (giải quyết phần ngọn), sử dụng các hoạt chất tự nhiên từ thảo dược để làm dịu da, giảm ngứa, và loại bỏ vảy bong tróc. Đây không phải là phương pháp chữa khỏi vảy nến (vốn là bệnh tự miễn) mà là cách chăm sóc da, giảm triệu chứng và hỗ trợ vệ sinh.
*Cây Chàm mèo: Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze là cây thuốc nam khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc . Kết quả nghiên cứu dưới này, đã được chứng minh cơ chế tác dụng của cây thuốc chàm mèo hiệu quả với bệnh vảy nến
Vảy nến là một bệnh lý da liễu mãn tính do rối loạn hệ miễn dịch, gây ra những mảng đỏ, bong vảy bạc và ngứa ngáy dữ dội.
Sâm cau lá lớn, Cồ nốc hoa đầu– Curculigo capitulata (Lour.) Kuntze., thuộc họ Hạ Trâm – Hypoxidaceae.
Cây vú bò - Ficus heterophyllus L., thuộc họ họ Dâu tằm: Moraceae.
Thất diệp nhất chi hoa - Paris spp. thuộc họ Trọng lâu - Trilliaceae.
Tam thất, Sâm tam thất, Kim bất hoán - Panax notoginseng Wall., thuộc họ Nhân sâm - Araliaceae.
Sim - Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk., thuộc họ Sim - Myrtaceae. ♦ Mô tả: Cây nhỏ cao 1-3m. Lá mọc đối, phiến lá dày, chóp tù, mép nguyên, có 3 gân, mặt dưới có lông tơ. Hoa màu hồng tím mọc riêng lẻ hoặc 3 cái một ở nách lá. Quả mọng màu tím sẫm, chứa nhiều hạt. Cây ra hoa tháng 4-5, có quả tháng 8-9.
Chưa có sản phẩm trong giỏ hàng